Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Hội nghị được kết nối với gần 35.000 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị, quân khu, quân chủng, quân đoàn trên toàn quốc với gần 2,1 triệu đại biểu tham dự Hội nghị. Dự và chủ trì tại điểm cầu xã An Cư có đồng chí Lưu văn Đạo – Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐND xã.


Mở đầu Hội nghị, các đại biểu xem phim "40 năm thu hút đầu tư nước ngoài"; nghe đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ trình bày các nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW nhằm thống nhất nhận thức và định hướng tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị.
Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, gần 40 năm qua, chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài là một quyết sách chiến lược đúng đắn của Đảng, góp phần quan trọng huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng hội nhập và nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực, thu hút gần 550 tỷ USD vốn đăng ký, với hơn 46 nghìn dự án còn hiệu lực, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới. Có thể khẳng định, chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng trong gần bốn thập kỷ qua là hoàn toàn đúng đắn và đạt được những kết quả rất quan trọng.
Tuy nhiên, mô hình phát triển hiện nay cũng đã bộc lộ những giới hạn. Chất lượng và sức lan tỏa của một bộ phận dự án còn thấp; liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thị trường vốn và đầu tư gián tiếp chưa tương xứng với tiềm năng.
Trong khi đó, bước sang giai đoạn phát triển mới, bối cảnh quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Cạnh tranh chiến lược, sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cùng sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng và dòng vốn toàn cầu đang đặt ra những yêu cầu mới đối với mô hình phát triển của đất nước.
Những thay đổi của bối cảnh phát triển cùng với những hạn chế của mô hình hiện nay cho thấy, trong giai đoạn tới, yêu cầu không chỉ là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút dòng vốn chất lượng cao hơn, công nghệ cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn và tạo sức lan tỏa mạnh hơn đối với nền kinh tế. Để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam cần một tư duy phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính từ yêu cầu đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW. Đây không chỉ là Nghị quyết điều chỉnh đơn thuần về thu hút đầu tư nước ngoài, mà là Nghị quyết về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, việc thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, Nghị quyết số 10-NQ/TW đề ra mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh; nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan toả với các khu vực kinh tế trong nước; tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.
Nghị quyết nêu rõ các quan điểm chỉ đạo mang tính định hướng tư tưởng, đồng thời nhấn mạnh kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, là kênh tiếp nhận vốn, công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Những quan điểm này thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với 06 chuyển đổi lớn gồm: Chuyển từ thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; Từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng; Từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả; Từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế; Từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển; Từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, có thể khái quát mục tiêu của Nghị quyết bằng một thông điệp: Thành công trong giai đoạn mới không được đo chủ yếu bằng số lượng dự án hay quy mô vốn thu hút, mà bằng chất lượng các dòng vốn, năng lực công nghệ, mức độ đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và những đóng góp thực chất đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Nghị quyết cũng đề ra một số định hướng thời gian tới, bao gồm 07 nhóm nhiệm vụ đột phá về đổi mới nhận thức, đột phá về thể chế, phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, định hướng thu hút đầu tư thế hệ mới, nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường tài chính; đồng thời, gợi mở một số yêu cầu đặt ra đối với toàn hệ thống chính trị để bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.
Minh Triều (An Cư)